Nhiều hiện vật tượng gốm cổ Việt Nam mang giá trị văn hóa, lịch sử đặc sắc đã được giới thiệu tới công chúng thông qua triển lãm chuyên đề, khai mạc sáng 22-4 tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.
Triển lãm “Tượng gốm cổ Việt Nam” được Bảo tàng Lịch sử quốc gia giới thiệu tới công chúng đến hết tháng 8-2014 với hơn 70 hiện vật có niên đại từ khoảng 4000 năm cho đến đầu thế kỷ 20, đây đều là những tác phẩm độc đáo, có giá trị văn hóa to lớn.
Tượng gốm là một trong các loại hình điêu khắc xuất hiện sớm nhất của văn minh nhân loại. Ở Việt Nam, tượng gốm sớm nhất đã được tìm thấy trong Văn hóa Phùng Nguyên, thuộc sơ kỳ thời đại kim khí, có niên đại cách đây khoảng 4000 đến 3500 năm. Đến thời kỳ phong kiến tự chủ (thế kỷ thứ 10 đến đầu thế kỷ 20), cùng với sự phát triển của nghề gốm, tượng gốm ngày càng xuất hiện nhiều hơn. Không chỉ đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ của người Việt , tượng gốm còn được sản xuất để phục vụ việc thực hiện các nghi lễ tôn giáo, tín ngưỡng. Không những thế, lấy cảm hứng từ thiên nhiên, cuộc sống hàng ngày, bằng bàn tay tài hoa, sức sáng tạo và óc thẩm mỹ, các nghệ nhân gốm Việt xưa đã thổi hồn vào đất để tạo nên những thành quả văn hóa, nghệ thuật phản ánh sinh động các mặt của đời sống, đất nước, con người qua từng thời kỳ lịch sử.
Tượng gốm cổ Việt không chỉ đa dạng về chất liệu, dòng men mà còn phong phú về hình thức thể hiện và chức năng sử dụng. Các chất liệu gốm như gốm xốp, đất nung, sành, gốm men, sứ cùng với nhiều loại men như men trắng, men rạn, men nâu, men lục, men vàng, men ngọc… Về hình thức thể hiện, tượng gốm cổ Việt Nam bao gồm tượng độc lập, vật dụng tạo hình theo hình thức tượng tròn và trang trí với tư cách là một bộ phận hữu cơ của hiện vật.
Hệ thống những hiện vật mà Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tiến hành trưng bày bao gồm 3 chủ đề: Chủ đề gốm hiện thực, tượng gốm tôn giáo – tín ngưỡng và tượng gốm trang trí kiến trúc.
Tượng gốm hiện thực là sưu tầm hiện diện đầy đủ nhất các chất liệu gốm, không chỉ phong phú về loại hình mà còn đa dạng về đề tài thể hiện như con người, các loại chim, thú, vật nuôi… rất gần gũi với đời sống của người Việt cổ.
Có thể kể tới như tượng người, tê giác, chim… trong thời đại kim khí như Phùng Nguyên, Đồng Đậu, gò Mun, Đông Sơn (ở miền Bắc) với niên đại 4000 đến 2000 năm nay hay giồng Cá Vồ ở Đông Nam Bộ với niên đại 2500 đến 2000 năm nay. Nhóm tượng này chủ yếu làm bằng gốm xốp và đất nung, mặc dù còn thô phác, mộc mạc nhưng tính chân thực cao, phản ánh thực tiễn đời sống đương thời của cư dân Việt cổ.
Trong thời đại phong kiến tự chủ, tượng gốm hiện thực là loại xuất hiện khá phổ biến nhằm đáp ứng nhu cầu đưa thẩm mỹ vào thực dụng. Bởi vậy, loại tượng này chủ yếu là những vật dụng hàng ngày được tạo hình theo hình thức tượng người, tượng động vật hoặc tượng trang trí sản phẩm. Loại hình cũng rất đa dạng. Có thể kể tới những loại ấm, chén, lọ, bình, hộp, bình vôi, đèn thắp sáng, chậu cảnh, lọ hoa…
Trong khi đó, tượng gốm tôn giáo, tín ngưỡng chủ yếu gồm tượng Phật giáo và các vị thần linh trong các tín ngưỡng dân gian. Thời Lý, Trần, tượng Phật giáo có kích thước đa phần đều rất nhỏ, được làm bằng đất nung hoặc gốm men để thờ trong các bảo tháp, điện thờ. Những giai đoạn về sau, tượng Phật giáo chủ yếu bằng chất liệu gốm men. Các nhân vật Phật giáo cũng đa dạng hơn nhưng xuất hiện nhiều hơn cả vẫn là tượng Quan âm trong nhiều hình thức hóa thân khác nhau.
Tượng thần linh có các loại tượng Tam Đa, Táo Công, Thổ địa, Thần tài… mỗi tượng mang một ý nghĩa biểu trưng riêng. Ngoài ra, do các nghi lễ thờ cúng ngày càng đa dạng nên việc chế tác các vật dụng nghi lễ theo hình thức tượng tròn ngày càng trở nên phổ biến, như những chiếc đèn, đài thờ, đỉnh trầm, bình nước, bình hoa được tạc theo các linh vật như rồng, phượng, lân…vừa mang ý nghĩa tâm linh, vừa mang ý nghĩa sử dụng và mang tính thẩm mỹ cao.
Tượng gốm trang trí kiến trúc lại chủ yếu là các tượng linh vật như rồng, lân, nghê, xi… được gắn trên bờ nóc, bờ quyết thuộc bộ mái hoặc tam quan, trụ cổng các công trình kiến trúc cung đình, tôn giáo tín ngưỡng và dân sinh cổ như cung điện, chùa, đình, miếu, lăng mộ, nhà thờ họ, cổng làng… Mỗi linh vật lại mang một ý nghĩa biểu tượng khác nhau.
Do đặc thù trang trí ngoài trời, chất liệu gốm ít được sử dụng mà chủ yếu là đất nung, đất nung tráng men hoặc sành. Mặc dù vậy, kỹ thuật chế tác và đặc trưng nghệ thuật của tượng trang trí kiến trúc vẫn mang tính thời đại rất rõ nét.
Có thể thấy, với hệ thống những hiện vật phong phú được trưng bày lần này, công chúng hoàn toàn có thể chiêm ngưỡng và tìm hiểu về những giá trị về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật đặc sắc của tượng gốm cổ qua đó góp phần bảo tồn, phát huy và tôn vinh truyền thống văn hóa của dân tộc.
Một số hình ảnh tại triển lãm:
Họp báo giới thiệu về triển lãm
Cắt băng khánh thành phòng trưng bày Tượng gốm cổ Việt Nam
Và một số tác phẩm tượng gốm cổ trưng bày tại triển lãm
L.Sơn